Lục Hào (thuyluunien) – LỤC HÀO: CHƯƠNG 9

0
58

Chương 9

Nghĩ thông suốt mấu chốt này, Nghiêm Tranh Minh liền hiểu, mình nên xuống núi du lịch một phen.

Nước sôi lửa bỏng có thể rèn nhục thể, hoan du ly hận có thể rèn tinh thần.

Phù Dao mộc kiếm tuy là kiếm pháp nhập môn, lại âm thầm ứng với những thăng trầm trong cuộc đời phàm nhân, điều này không phải bế môn tạo xa mà làm được. Y cả ngày ru rú trong Ôn Nhu hương trên Phù Dao sơn, e rằng ngàn vạn năm vẫn chỉ như một năm, vĩnh viễn chẳng hợp được với bánh xe hồng trần quay cuồng không nghỉ. (Bế môn tạo xa: đóng cửa làm xe không quan sát đường sá, xa rời thực tế)

Không phải ai cũng có thể cơ duyên xảo hợp được điểm hóa thế này, để biết nút thắt của mình ở chỗ nào. Bình thường người trong tu hành gặp phải tình huống kiểu này, đương nhiên sẽ mừng rỡ như điên, ngược dòng mà lên, phá vỡ thành chắn.

Nhưng Nghiêm thiếu gia y là người bình thường sao?

Bốn chữ “xuống núi du lịch” chỉ lướt qua một chớp mắt trong bộ óc như bình hoa ấy, rồi lập tức bị đủ các suy tưởng ăn gió nằm sương, tha hương bất tiện dưới chân núi bao phủ mất tăm.

Vừa nhắc đến xuống núi, riêng chuyện phải mang bao nhiêu hành lý đã khiến Nghiêm Tranh Minh thấy đầu đau muốn nứt ra, gân lười toàn thân nhao nhao tạo phản, dù chết dù sống vẫn cản bước chân y tiến về phía trước.

“Du lịch?” Cuối cùng, thiếu gia lòng thoáng như thiên địa nghĩ thầm, “Ai thích đi thì đi, còn ta dù sao cũng không đi – nút thắt thích thì cứ thắt, ai thèm quan tâm chứ!”

Nghiêm Tranh Minh hạ quyết tâm, tính lơ đi chút trúc trắc và không thông thuận trong kiếm pháp này. Dù sao thì kiếm chiêu đã nhớ rồi, cứ coi như mình đã học xong đi, mai lại hỏi sư phụ học thức thứ tư vậy.

Đại sư huynh không có chí lớn, được chăng hay chớ này, yên dạ yên lòng mà trộm lười nhác. Y phất tay bắn mấy hòn đá nhỏ, giúp sư phụ đập tứ sư đệ đang leo cây dùng mộc kiếm khều ổ chim rơi xuống, phương hướng tinh chuẩn, lực đạo thích hợp.

Nghiêm Tranh Minh nhìn Hàn Uyên nằm bò dưới đất gào khóc, tự thấy công phu đã có chút thành tựu, có thể không cần quá tích cực.

Sau giờ Ngọ, cuộc tra tấn lẫn nhau trong ngày hôm nay của sư phụ và các đệ tử rốt cuộc đã kết thúc.

Ngoại trừ đại sư huynh, những người khác quay về các viện, ăn cơm nghỉ ngơi, buổi chiều đều tự dụng công – ai không muốn dụng công thì có thể chơi với lũ khỉ ở trên núi.

Mộc Xuân chân nhân đối với đệ tử nhất loạt thả rông, chỉ dặn tuân thủ môn quy, đêm mùng một và mười lăm mỗi tháng ngoan ngoãn chút, không được đi lung tung trên núi.

Chỉ có Nghiêm Tranh Minh buổi chiều còn phải ở lại tiếp tục đối diện với khuôn mặt sư phụ.

Thấy các đạo đồng lục tục đem gỗ và dao khắc đến, Lý Quân liền giải thích cho hai tân sư đệ: “Đó chính là phù chú. Phù chú chia thành minh phù và ám phù minh phù là loại khắc lên thứ gì đó, thường thấy nhất chính là gỗ, nếu là cao thủ thì kim thạch nọ kia cũng có thể dùng làm vật liệu ám phù thì lợi hại hơn, nước và khí, thậm chí tâm niệm cũng có thể thành phù chú – nhưng đó đều chỉ là truyền thuyết thôi, chưa ai từng thấy cả, chắc phải là người đại năng mới làm được.”

Trình Tiềm vờ như không tò mò chút nào, kỳ thực đã dỏng thẳng tai lên.

Dù sao thì phù chú cũng là căn bản của tiên bảo, mà tiên bảo lại là ấn tượng trực quan nhất của bách tính tầm thường đối với tu tiên.

Hàn Uyên thân thiết sấn tới hỏi: “Nhị sư huynh, đại năng là gì?”

Lý Quân nhe răng cười nói: “Trên đời ai dám xưng ‘năng’, đại năng thật sớm đã thăng thiên cả rồi.”

Hàn Uyên chẳng có ấn tượng gì tốt với đại sư huynh, nhưng cũng biết mình không thể trêu vào y huống chi tiểu khiếu hóa không sĩ diện như Trình Tiềm, ghi thù cũng chẳng sâu, một gói kẹo hạt thông là đủ để gã xóa hết ân thù.

Gã hâm mộ nhìn bóng lưng tự do tản mạn của Nghiêm Tranh Minh, hớn hở hỏi Lý Quân: “Thế sư huynh à, khi nào thì chúng ta có thể học khắc cái đó?”

“Chúng ta không học được đâu,” Lý Quân khoát tay, làm bộ tiếc nuối, “Muốn học phù chú, thì phải có khí cảm trước – đệ đừng hỏi ta khí cảm là gì, ta cũng không biết đâu. Nhưng nghe sư phụ nói đó là một loại cảm giác huyền diệu có thể câu thông thiên địa… Còn về sư phụ, sau này đệ sẽ biết thôi, không cần quá để ý đến lời người nói, để ý cũng chẳng hiểu đâu.”

Lý Quân môi mỏng, khóe miệng hơi cong lên, không cười cũng có ba phần ý cười, cười thì càng chẳng tốt đẹp gì. Nói đến đây, gã cố ý dừng giây lát, kế đó làm bộ làm tịch nhíu mày: “Nhưng có người cả đời cũng không cảm nhận được khí cảm, một số là do tư chất không tốt, còn một số là vì vận khí chẳng ra sao.”

Hàn Uyên nghe vậy sắc mặt căng thẳng, bất tự giác ưỡn thẳng lưng: “Thế thì đáng tiếc thật!”

“Đương nhiên là đáng tiếc,” Lý Quân nói, “Không có khí cảm, dù chúng ta luyện mộc kiếm giỏi hơn nữa, cũng chỉ là cường thân kiện thể, không có tác dụng gì lớn.”

Lúc ban đầu nghe Lý Quân nói, Trình Tiềm không hề để ý lắm, bởi vì trong lòng nó đã nhận định Nghiêm Tranh Minh là cái gối thêu hoa, vậy mà cũng có thể tìm được khí cảm trong vòng bảy tám năm, nếu nó còn thua cả một cái gối, thì chi bằng sớm bỏ ý định cầu tiên vấn đạo này đi, quay về trồng trọt buôn bán cho rồi.

Nhưng Lý Quân nói đến đây, đã bị Trình Tiềm nhận ra thoại lý hữu thoại.

Trình Tiềm quay đầu lại nhìn vào mắt Lý Quân, rề rà mở miệng: “Nghe ý tứ, thì hình như nhị sư huynh biết cách gì có thể thức tỉnh khí cảm?”

Lý Quân nhìn nó nở nụ cười, cả mày lẫn mắt đều cong lên, như một đôi móc câu đen trắng rõ ràng, ẩn ý nhìn Trình Tiềm, nhưng chỉ nhìn chứ không đáp.

Trình Tiềm còn khuya mới mắc mưu, thờ ơ nói: “Ồ, thế thì tốt quá rồi, chúc sư huynh sớm được như mong muốn.”

Nếu thực sự có biện pháp rèn luyện khí cảm, Lý Quân nhập môn một năm có thể không làm sao? Rõ ràng là có chủ ý tồi tệ nào đó, muốn tìm kẻ chết thay lấy thân thử nghiệm thôi.

Tên nhãi này rất có kiến thức và nhãn lực, đôi mắt như móc câu của Lý Quân lập tức giật giật.

Hàn Uyên lại là kẻ mông không khi nào chịu ngồi yên, nghe vậy lập tức hỏi đến cùng: “Cái gì, phương pháp gì?”

Lý Quân liền buông tha cho Trình Tiềm, quay đầu ra vẻ bí hiểm với Hàn Uyên: “Không thể nói, trái với môn quy.”

Miệng gã bảo “không thể nói”, ngữ khí lại là “mau hỏi đi”.

Lý Quân đào nguyên cái hố to đùng trước mặt gã, Hàn Uyên cũng rất phối hợp, không nói hai lời bước ngay một chân vào.

Hàn Uyên giống như sau đợt đại biến cóc vừa nãy đã tâm đầu ý hợp với nhị sư huynh mới quen biết, ra sức truy hỏi, Lý Quân “bất đắc dĩ”, “từ chối đủ kiểu mà không được”, rốt cuộc thì thào: “Ta từng xem một quyển sách, chép phong cảnh Phù Dao sơn chúng ta, nói dưới núi này trấn đại yêu, đêm sóc vọng – cũng chính là mùng một và mười lăm mỗi tháng – yêu khí của đại yêu và ánh trăng phối hợp với nhau, thanh khí và trọc khí trên núi khuấy động, sẽ tụ vào sơn huyệt, lúc này trong sơn huyệt ở hậu sơn, ngay cả phàm nhân chưa nhập môn cũng có thể có khí cảm.”

Lý Quân đổi giọng: “Đương nhiên, chưởng môn sư phụ có lệnh, cấm chúng đệ tử mùng một và mười lăm mỗi tháng ra khỏi viện, sơn huyệt càng là cấm địa không thể đến.”

Hàn Uyên nghe vậy hơi suy tư.

Lý Quân vờ vịt khuyên nhủ: “Các sư đệ mới nhập môn, có thể còn chưa bắt đầu đọc bảy bảy bốn mươi chín lần môn quy nhỉ? Trong đó viết rất rõ, tư chất tốt như tiểu sư đệ, nhất thiết phải tu hành tuần tự từng bước, rồi đến một ngày sẽ có khí cảm thôi, tội gì suốt ngày muốn đi đường tắt, vi phạm môn quy, phải chứ, tam sư đệ?”

Trình Tiềm ngoài cười trong không cười tiếp lời: “Nhị sư huynh nói đúng lắm!”

Lý Quân: “…”

Lý Quân nhìn Trình Tiềm từ trên xuống dưới một phen. Tam sư đệ không thích nói chuyện này giống như còn chưa tới tuổi phát triển chiều cao, vừa gầy vừa nhỏ, cúi đầu xuống là chẳng ai thấy mặt.

Lý Quân nhất thời không rõ lắm, tam sư đệ này rốt cuộc là tuổi nhỏ nhát gan, không giỏi ăn nói, hay là chỗ nên phát triển đã phát triển nhãn lực và lòng dạ hết rồi?

Câu phụ họa này của Trình Tiềm chặn họng khiến gã hơi tiến thoái lưỡng nan, Lý Quân miễn cưỡng nở nụ cười: “Tam sư đệ thật là thông minh.”

Cách đó không xa, Nghiêm Tranh Minh nhận một bát nước mơ hoa quế do đạo đồng dâng cho, ngẩng đầu lên vừa vặn nhìn thấy màn này. Y luôn cảm thấy tiểu tử Lý Quân này tâm thuật bất chính, lúc gã nhe răng cười, y nhìn ra cả đống mưu mô trong đôi mắt đó.

Nghiêm Tranh Minh đột nhiên tâm huyết dâng trào, nghiêng đầu nói với đạo đồng: “Ngươi kêu tiểu… tiểu hài lùn nhất kia, ta lại quên mất rồi, tên là gì nhỉ?”

Đạo đồng lo lắng trả lời: “Đó là tam sư thúc Trình Tiềm ạ.”

“A, chính là nó đó,” Nghiêm Tranh Minh gật gật đầu, “Kêu nó chờ ta một lúc, chờ ta luyện xong phù chú, cứ nói là sư phụ bảo ta chỉ điểm kiếm pháp cho nó.”

“Lúc bảo chỉ thì không thèm hé răng một tiếng, giờ lại giương cờ hiệu vi sư lên.” Mộc Xuân chân nhân nghe vậy lề mề nghĩ bụng, nhưng đưa mắt nhìn Nghiêm Tranh Minh một cái, lại không hề mở miệng vạch trần – thiếu gia ở trên đỉnh núi rộng lớn đến bây giờ cũng rất tịch mịch, hiếm lắm mới có một đứa trẻ bầu bạn.

Đạo đồng chạy chầm chậm đến truyền lời, Trình Tiềm nghe xong không nói gì, chỉ nghĩ chắc đại sư huynh uống lộn thuốc rồi.

Hàn Uyên lại lưu luyến lẩm bẩm: “Ta còn muốn lát nữa đến chỗ ngươi chơi mà.”

Trình Tiềm nhìn gã một cái, nghĩ bụng: “Ngươi nên bị nhị sư huynh kia chơi đi.”

Nó thầm trào phúng như vậy, rồi điềm nhiên cáo biệt Lý Quân và Hàn Uyên, vâng lời lẳng lặng ở một bên chờ đợi – đương nhiên không phải để chờ Nghiêm thiếu gia chưa biết là sư huynh hay sư tỷ kia, mà kỳ thực Trình Tiềm rất tò mò về cái gọi là “phù chú”.

Tiếc thay, nó nhanh chóng phát hiện, kẻ không có khí cảm sẽ chẳng cảm nhận được sự huyền diệu của phù chú – chí ít trong mắt nó, đại sư huynh nguyên một buổi trưa chẳng làm gì, chỉ ở trong tầm mắt sư phụ, cầm dao khắc đường thẳng trên khúc gỗ.

Thu hoạch duy nhất của Trình Tiềm chuyến này, chính là được thấy mặt nghiêm khắc của sư phụ lão nhân gia.

Đại sư huynh không ngoài dự liệu, là một cái gối thêu hoa không hơn không kém, mới ngồi một lát mà đã như mọc nhọt ở mông, lắc lư trái phải, đồng thời sai sử đám đạo đồng thị nữ chung quanh quay như chong chóng.

Y lúc thì chê búi tóc chặt quá, muốn chải lại, khi thì than người có mồ hôi, phải về thay quần áo, lúc lại đòi xuất cung(1), khi lại muốn uống nước… Nước bưng tới, không kêu lạnh thì sợ bỏng miệng, chê nọ chê kia, chẳng chịu ngồi yên.

Y còn thường xuyên thất thần, thường xuyên nhìn đông ngó tây, thường xuyên mắng thầm Lý Quân và Mộc Xuân, thỉnh thoảng hát thầm một khúc do bọn thị nữ mới biên, tâm tư dù thế nào cũng hoàn toàn không tập trung vào việc khắc gỗ.

Trình Tiềm tuy không hiểu gỗ thì có gì mà khắc, nhưng nhìn điệu bộ của đại sư huynh, vẫn hơi chướng mắt nghĩ bụng: “Lãn lư thượng ma.”(2)

Mộc Xuân chân nhân sớm biết tên đệ tử không nên thân này sẽ làm trò như vậy, nên đã đặt một cái đồng hồ cát trên bàn Nghiêm Tranh Minh. Đây là một tiên bảo tinh xảo, chỉ cần nửa canh giờ là chảy hết, xong rồi thì việc luyện tập của Nghiêm Tranh Minh có thể kết thúc, nhưng chỉ cần y vừa thất thần thì cát sẽ lập tức ngưng trệ, đồng hồ cát nửa canh giờ có thể kéo dài tới khi trời tối.

Nghiêm Tranh Minh vốn tưởng rằng, ở phương diện “được chăng hay chớ” này, hai sư đồ có thể làm một đôi tri âm, nhưng hễ đến thời điểm luyện phù chú, là sư phụ đều khác hẳn bình thường, có phần không hợp tình hợp lý.

Mộc Xuân chân nhân từng nói, kỳ thực y có thể tính là lấy kiếm nhập đạo, người lấy kiếm nhập đạo đại đa tâm chí kiên định, nhưng cũng có ngoại lệ, như Nghiêm thiếu gia chẳng hạn, bởi vậy phải rèn luyện gấp bội, mới không đến mức bị phế.

Trình Tiềm ở bên nhìn một lúc, cảm thấy chẳng bổ ích gì, liền thu hồi tầm mắt, nhỏ giọng nhờ đạo đồng bên cạnh lấy giấy bút cho, bắt đầu bài học ngày hôm nay, trước viết môn quy, sau lại viết “Thanh tĩnh kinh” mà sư phụ đọc lúc sáng.

Mộc Xuân thấy thế, thần sắc nghiêm khắc rốt cuộc nhu hòa hơn, vẫy tay gọi: “Trình Tiềm lại đây, ở chỗ đó ngược sáng.”

Nghiêm Tranh Minh chau mày, ngẩng đầu nhìn đôi mắt ti hí của sư phụ.

Giữa trưa mà làm gì có chỗ nào ngược sáng? Rõ ràng là sư phụ muốn khiến y mất mặt, để y thấy mình còn không kiên định bằng tên nhóc hạt tiêu này.

Nghiêm Tranh Minh nghiêng đầu liếc nhìn nét chữ của Trình Tiềm, nhất thời quên là mình muốn giữ nó lại, bất chấp lý lẽ mà giận cá chém thớt: “Dấu chân chó cũng còn ngay ngắn hơn.”

Trình Tiềm dù sao cũng còn nhỏ, khôn ngoan có hạn, nghe vậy chẳng thèm ngẩng đầu phản kích luôn: “Đa tạ sư huynh dạy bảo, dấu chân chó ngay ngắn hơn cũng vô dụng, bởi vì súc sinh đó căn bản không ngồi được.”

Nói xong nó còn ẩn ý liếc cái đồng hồ cát kia một cái, mà Nghiêm Tranh Minh thì tức sùi bọt mép phát hiện, cái đồng hồ đáng chết kia quả nhiên lại dừng nữa rồi.

Thời xưa trong khoa cử có đặt ra thẻ bài “xuất cung” và “nhập kính”, tránh để sĩ tử tự ý rời khỏi vị trí. Sĩ tử trước khi đi nhà xí phải lấy thẻ bài này. Vì vậy tục xưng đi nhà xí là xuất cung. Xuất đại cung là đại tiện, tiểu cung là tiểu tiện.

Nguyên văn là Lãn lư thượng ma thỉ niệu đa – con lừa lười nhác kéo cối xay lề mề mà chỉ giỏi ỉa đái. Đại ý là mắng lười.

FACEBOOK COMMENT


LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here