Lục Hào (thuyluunien) – LỤC HÀO: CHƯƠNG 4

0
67

Chương 4

Edit: Yển

Đường đường một sư phụ, vì sao phải “bái kiến” đại sư huynh?

Trình Tiềm và Hàn Uyên đều bị sương mù che phủ, mà sư phụ còn giải thích như chỉ lo thiên hạ chưa đủ loạn: “Khỏi cần đa tâm, đại sư huynh của các con vô tâm lắm, không cần phải sợ y, cứ giống vi sư là được rồi.”

Chờ đã, “cứ giống vi sư” là ý gì?

Tóm lại, Mộc Xuân chân nhân điểm hóa thành công khiến màn sương mù mỏng manh trên đầu hai tiểu đệ tử biến thành một vũng hồ đặc sệt.

Qua sơn môn, liền có mấy đạo đồng thiếu niên theo tiếng nước róc rách ra đón.

Các đạo đồng lớn thì mười bảy mười tám, nhỏ thì mười ba mười bốn, ai cũng mi thanh mục tú, như một nhóm kim đồng tử ngồi dưới thần tiên, chỉ có tay áo không gió tự lay động.

Hàn Uyên trợn mắt há hốc mồm thì khỏi cần phải nói, ngay cả Trình Tiềm dọc đường hơi kiêu ngạo cũng hơi có cảm giác tự thẹn kém người.

Bởi một chút tự thẹn kém người này mà Trình Tiềm bất giác dùng đến chống cự, vô thức thẳng lưng nghiêm mặt, giấu kín sự hiếu kỳ và thiếu kiến thức của mình.

Đạo đồng dẫn đầu từ đằng xa thấy Mộc Xuân chân nhân, người chưa tới đã cười trước, thái độ khá tùy ý: “Chưởng môn lần này lại du lịch đến đâu vậy, sao lại y như chạy nạn thế – ôi, đây là… tiểu công tử lừa từ đâu vậy?”

Trình Tiềm thầm bẻ vụn từng chữ từng câu chào hỏi thân thiết này, cũng chẳng thể tìm thấy mảy may tôn sùng, đạo đồng giống như không phải đang chào “chưởng môn”, mà là “Hàn đại thúc thôn bên” vậy.

Mộc Xuân chân nhân cũng không để ý, trên mặt thậm chí hiện ra nụ cười hơi vô tâm, ông chỉ Trình Tiềm và Hàn Uyên mà nói: “Đệ tử ta mới thu, còn nhỏ, phiền ngươi bố trí cho.”

Đạo đồng cười nói: “Bố trí vào đâu?”

“Đứa này dẫn đến Nam viện,” Mộc Xuân chân nhân tùy tay chỉ Hàn Uyên, sau đó cúi đầu như cố ý như vô tình, đối thẳng với tầm mắt Trình Tiềm đang nhìn từ dưới lên trên, trong đôi mắt trắng đen rõ ràng của tiểu thiếu niên kia có sự khắc chế sinh ra đã mang theo, và một chút kích động khó thấy đối với hoàn cảnh lạ lẫm nữa.

Mộc Xuân chân nhân bỗng thu lại nụ cười không đứng đắn nơi khóe môi, giây lát sau, ông dùng thái độ gần như nghiêm nghị chỉ chỗ của Trình Tiềm: “Để Trình Tiềm đến ở Biên đình đi.”

“Biên đình” không hề là đình, mà là một tiểu viện vị trí rất chếch, trông như xa rời quần chúng vậy, bên này tường viện có dòng suối nhỏ lặng lẽ chảy qua, bên kia thì là một rừng trúc lớn, cực kỳ yên tĩnh.

Rừng trúc hẳn đã lâu năm, ngay cả gió nhẹ thoảng qua cũng có thể vương màu xanh biếc, cả viện như nằm giữa biển trúc, xanh đến độ hơi thanh tâm quả d*c.

Cửa viện treo hai ngọn đèn chong, cũng có khắc phù chú, nhưng tinh xảo hơn “báu vật gia truyền” của Trình gia, quầng sáng êm dịu, gió thổi bất động, người đi bất kinh, một trái một phải, thanh u xa xưa kẹp một tấm hoành vào giữa, trên viết hai chữ “Thanh An”.

Dường như xuất từ cùng một tay người với hai chữ “Phù Dao” ở sơn khẩu.

Đạo đồng dẫn đường cho Trình Tiềm tên là Tuyết Thanh, tuổi tác xấp xỉ đại ca Trình Tiềm. Tuyết Thanh không cao không thấp, không mập không ốm, nhìn kỹ còn khá thanh tú, nhưng ngũ quan tẻ nhạt, là người ít được chú ý nhất trong các đạo đồng, tính cũng kiệm lời, dường như không thích khoe mẽ lắm.

“Đây là Biên đình trên núi chúng ta, còn gọi là Thanh An cư, nghe nói trước kia chưởng môn từng ở đây, sau lại bỏ không, cũng từng dùng làm trai đường nữa.” Tuyết Thanh thong thả giải thích, “Tam sư thúc biết trai đường là gì chứ?”

Trình Tiềm kỳ thực không rõ lắm, nhưng vẫn làm bộ không để ý mà gật đầu, theo Tuyết Thanh vào tiểu viện, chính giữa có một cái hồ nhỏ tầm một trượng vuông, trên cái khay bằng gỗ du đen có khắc phù chú, chắc là có tác dụng cố định – nước trong ao ngưng đọng lại đó chứ không chảy.

Nhưng đến gần nhìn kỹ, Trình Tiềm mới phát hiện, thì ra đó không phải hồ nước gì, mà là một viên bảo thạch to hiếm thấy.

Bảo thạch nọ không phải ngọc cũng chẳng phải thúy, chạm vào thấy lành lạnh, trong xanh lục thẫm hơi phiếm một chút lam, có sự tĩnh mịch lạnh giá mà thâm u.

Trình Tiềm chưa bao giờ thấy vật hiếm lạ như vậy, dù không muốn giống một đứa nhà quê thì nhất thời vẫn không tự chủ được ngây ra.

Tuyết Thanh nói: “Đây cũng chẳng biết là thứ gì, bất quá chúng con đều gọi là thanh tâm thạch, do chưởng môn tìm đến, trước kia khi trai giới người thường xuyên lót nó để sao kinh, có nó trấn, viện này mùa hè mát mẻ hơn nhiều.”

Trình Tiềm không nhịn được chỉ minh phù trên cái khay bằng du đen, hỏi: “Tuyết Thanh ca, phù chú này dùng làm gì vậy?”

Tuyết Thanh dường như không ngờ Trình Tiềm khách khí như vậy, sửng sốt giây lát mới đáp: “Tam sư thúc đừng làm con tổn thọ – đây không phải phù chú đâu ạ.”

Trình Tiềm nhìn hắn một cái, Tuyết Thanh đọc thấy một chút nghi hoặc thận trọng kỳ dị trong mắt thiếu niên này, ánh mắt giống như biết nói, so với vị còn lại chưởng môn nhặt về thì càng có vẻ tinh tế hơn.

Tuyết Thanh không biết nên hình dung như thế nào. Kỳ thực hắn nhận ra đứa trẻ này xuất thân không cao, vị tất từng học hành, nhưng cậu bé tựa hồ đang cố gắng ép mình thành một quân tử một cách cứng nhắc, giơ tay nhấc chân đều câu nệ, giống như không biết nên dùng gương mặt nào để gặp gỡ người ta.

Đơn giản mà nói, thì là có chút làm bộ – mà còn không có mục tiêu và đối tượng mô phỏng nào.

Những người bình thường làm bộ đều không khỏi hơi đáng ghét, cho dù chỉ là một đứa trẻ, nhưng không biết vì sao mà Tuyết Thanh không hề ghét Trình Tiềm, ngược lại tự dưng thấy hơi thương hại, bởi vậy dịu giọng đáp: “Tam sư thúc, Tuyết Thanh chỉ là một hạ nhân lo tạp dịch tư chất không tốt, chú ý sinh hoạt thường ngày của chưởng môn và các tiểu sư thúc, đạo phù chú bác đại tinh thâm, chúng con chẳng hiểu tí tẹo nào, cũng chỉ nghe chưởng môn nói qua dăm ba câu rồi học vẹt mà thôi, chi bằng công tử đến hỏi thử chưởng môn hoặc là nhà con… đại sư huynh người.”

Trình Tiềm nhanh nhạy nghe thấy hai chữ “nhà con”, lại liên tưởng đến thái độ thân thiết có thừa nhưng cung kính không đủ của các đạo đồng này với chưởng môn, trong lòng càng nghi hoặc hơn.

Tuyết Thanh nhanh chóng đưa nó đến Thanh An cư bày biện quen thuộc, vội vàng hầu hạ nó tắm sạch gió bụi dọc đường, lại thay một bộ quần áo vừa vặn, chỉnh trong chỉnh ngoài gọn gàng, bấy giờ mới dẫn đi.

Trình Tiềm vừa duy trì hình tượng không để lòi cái dốt, vừa thăm dò từ Tuyết Thanh xem đại sư huynh là thần thánh phương nào. Biết đại sư huynh này họ Nghiêm, tên là Nghiêm Tranh Minh, xuất thân phú quý.

Phú quý đến mức nào? Điều này thì Trình Tiềm không rõ – nó là một đứa trẻ cùng khổ, không có khái niệm gì với “phú quý”, người “phú quý” nó từng được thấy, chẳng qua là hạng Vương viên ngoại ở đầu thôn, Vương viên ngoại kia ngoài sáu mươi tuổi, cưới tiểu thiếp phòng thứ ba, đối với Trình Tiềm, đã là phú quý bức người rồi.

Nghe nói năm Nghiêm Tranh Minh bảy tuổi, chẳng biết bởi chuyện vặt vãnh gì mà trốn nhà đi, bị lão cáo già… sư phụ đa mưu túc trí của họ nhặt được, tuệ nhãn thức châu.

Lão bịp dùng tới cái lưỡi không xương, lừa thành công đại sư huynh lúc ấy còn nhỏ, chưa biết tình đời hiểm ác nhập môn, thành đại đệ tử khai sơn.

Nhưng tiểu công tử Nghiêm gia lạc mất, người nhà đương nhiên phải lo lắng, mất bao công sức mới tìm được Nghiêm Tranh Minh đã lạc lối – Nghiêm thiếu gia chẳng biết là bị Mộc Xuân cho uống mê hồn dược, hay chỉ là bản thân không muốn học theo gương tốt, dù chết dù sống cũng không chịu về nhà, khăng khăng ở lại tu hành với sư phụ, y như bị quỷ ám vậy.

Vị thiếu gia này được nuông chiều từ bé, Nghiêm gia đương nhiên không thể nhìn cục cưng nhà mình đi theo bọn giang hồ bịp bợm như gánh hát rong để chịu khổ, sau nhiều lần cãi vã không kết quả, họ đành phải thỏa hiệp, bỏ tiền nuôi môn phái này, coi như nuôi gánh hát cho thiếu gia chơi vậy.

Đương thời môn phái tu chân rất đa dạng, nhưng danh môn chính phái cùng tà ma ngoại đạo hàng thật giá thật đều rất ít, rải rác khắp Cửu Châu phần nhiều là mấy môn phái dã kê mà thôi.

Trình Tiềm tính thầm trong bụng, môn phái như Phù Dao phái, có nhà giàu cung dưỡng, tồn tại khá có thể diện, chắc có thể gọi là “môn phái gia cầm”.

Bởi vậy nó xem như đã hiểu, đại sư huynh không chỉ là đại sư huynh, y còn kiêm cả các vai như “phụ mẫu áo cơm của bản môn”, “kim chủ của chưởng môn”, cùng “đại đệ tử khai sơn của Phù Dao phái”, đương nhiên là cái ghế hàng đầu(1) của bản phái, ngay cả sư phụ cũng phải nịnh bợ.

Về phần bản thân cái ghế hàng đầu này – Trình Tiềm nhìn là biết ngay, y là một bại gia tử một lời khó nói hết.

Bốn chữ “kiêu xa d*m dật”, trừ lúc ấy đại sư huynh mới mười lăm chưa có gan “d*m”, thì ba chữ “kiêu” “xa” “dật” còn lại đủ hết không sót chữ nào.

Khi Mộc Xuân chân nhân lần đầu tiên dẫn đôi tiểu đệ tử đã tắm rửa sạch sẽ đến chỗ Nghiêm thiếu gia, vị thiếu gia kia đương bận chải đầu – không phải chưởng môn già cả hồ đồ không biết lễ phép, nhè ngay sáng sớm người ta đang rửa mặt chải đầu để đến quấy rầy, mà là đại sư huynh mỗi ngày phải chải đầu bao nhiêu bận.

May mà còn trẻ, không sợ rụng tóc hói đầu.

Có tư cách chải đầu cho đại sư huynh, đầu tiên phải là nữ, tuổi không thể quá nhỏ, cũng không thể quá lớn, tướng mạo không thể có một chỗ không đẹp, sở thích không thể có một tẹo bất nhã, từ sáng đến tối trừ chải đầu đốt hương thì khỏi cần làm gì cả, đôi tay nhất định phải mềm mại, phải trắng sáng như ngọc, không thể có một nốt chai phá đám.

Đạo đồng như Tuyết Thanh, thì ra đều là gia nô của Nghiêm gia, chọn kỹ lựa khéo một nhóm đưa lên núi cho môn phái sai sử.

Việc bên cạnh thiếu gia không cần tới đạo đồng, nghe nói là vì y không thích nam giới lắm, chê họ vụng về, bởi thế giữ lại trong viện hầu hạ là tiểu cô nương thuần một sắc, làm cho viện này luôn muôn hồng nghìn tía như mùa xuân vậy.

Trước lúc vào cửa, Trình Tiềm trộm nhìn chằm chằm bộ râu dê của sư phụ cả buổi, cho ra một kết luận: râu của sư phụ đã được dùng lược chải.

Trên đường đến đây, Tuyết Thanh đã nói, Mộc Xuân chân nhân sắp xếp cho nó ở Thanh An cư, là để nó thanh tâm an thần, trong lòng Trình Tiềm lờ mờ có chút khó chịu, không muốn thừa nhận mình tâm thần bất an, hiện giờ đến chỗ đại sư huynh, ngửa đầu nhìn thấy ba chữ “Ôn Nhu hương”, tim rốt cuộc thả vào bụng – xem ra không phải nó tâm thần bất an, mà là sư phụ già cả hồ đồ rồi.

Hàn Uyên bên cạnh ngô nghê coi vô tri là đáng yêu, hỏi: “Sư phụ, cổng chỗ đại sư huynh viết gì vậy ạ?”

Mộc Xuân liền vuốt râu đọc cho gã nghe, Hàn Uyên đần thối hỏi tiếp: “Ý là khuyến khích sư huynh về sau ôn nhu hơn ạ?”

Mộc Xuân nghe thế, sợ tái mặt dặn dò: “Câu này tuyệt đối không thể để đại sư huynh con nghe thấy đâu đấy!”

Trình Tiềm và Hàn Uyên thấy đường đường chưởng môn lại cụp đuôi như chó nhà có tang, hiếm khi tâm linh tương thông cùng nghĩ bụng: “Đây rõ là buồn cười, coi nhẹ thiên lý luân thường!”

Cả hai nghĩ như vậy, liếc nhìn nhau, đều nhận thấy sự kinh hãi trên mặt đối phương, vì thế vội cụp đuôi theo sư phụ, tập được kỹ năng quan trọng hàng đầu bản môn – Giáp Vĩ thần công. (giáp vĩ tức cụp đuôi)

Kỳ thực, khi lần đầu tiên gặp đại sư huynh, Trình Tiềm phải giật nảy mình.

Người nọ dáng vẻ còn non nớt mà đã khó ưa vô cùng, vận áo bào gấm trắng như tuyết, trên thêu vân mờ chẳng ai nhìn thấy, chỉ khi cử động mới hơi thấy có vẻ rực rỡ sắc màu. Y dặt dẹo dựa lưng lên cái ghế khắc hoa như không xương, mí mắt buông hờ, một tay chống cằm, tóc xõa ra như vẩy mực.

Nghe thấy âm thanh, Nghiêm Tranh Minh hờ hững nâng mí mắt, khóe mắt như mực nhạt màu quét qua, dài mà cong lên, tự dưng tạo thành vẻ âm nhu kiêu căng. Thấy sư phụ mà y không hề có ý muốn đứng dậy, mông vẫn ngồi vững trên ghế, rì rì mở miệng hỏi: “Sư phụ, người ra ngoài một chuyến, lại nhặt về được hai món gì vậy?”

Hình như y lớn hơi chậm hơn người khác, giọng thiếu niên còn chưa kịp vỡ, đã vậy lại còn hơi nũng nịu, thành thử càng khó mà phân biệt trống mái.

Thế nhưng y õng ẹo một cách đúng lý hợp tình, bất nam bất nữ như vậy, thoạt nhìn lại không hề kỳ cục chút nào.

Chưởng môn lão nhân gia cười theo, xoa tay giới thiệu: “A, đây là tam sư đệ con Trình Tiềm, đây là tứ sư đệ con Hàn Uyên, đều còn nhỏ chưa hiểu chuyện, sau này con làm đại sư huynh, phải giúp sư phụ nhắc nhở chúng.”

Nghiêm Tranh Minh nghe tên Hàn Uyên, mày dài giật nhẹ, da mặt dường như cũng hơi co rút, y hé mắt ra, hạ mình liếc tứ sư đệ nóng sốt mới ra lò một cái rồi ngay lập tức nhìn sang nơi khác, giống như bị làm bẩn mắt vậy.

“Hàn Uyên?” Đại sư huynh dường như bất mãn, rì rì bình luận, “Quả nhiên người y như tên, trông hơi oan uổng thật.”

Mặt Hàn Uyên đã trắng đến tái nhợt.

Nghiêm Tranh Minh bỏ qua gã, lại chuyển hướng sang Trình Tiềm.

“Tiểu hài kia,” Y nói, “Qua đây ta coi nào.”

Trung Quốc từ xưa đã có truyền thống sắp xếp thứ tự theo thân phận. Cái ghế thứ nhất này chính là tượng trưng cho quyền lực hoặc địa vị cao nhất.

FACEBOOK COMMENT


LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here